Quy trình thổi màng
Thông thường, khoảng tỷ lệ giữa khuôn và ống màng thổi từ 1,5 đến 4 lần so với đường kính khuôn. Mức độ kéo căng của màng khi chuyển từ trạng thái nóng chảy sang nguội ca theo chiều bán kính lẫn chiều dọc ống có thể dễ dàng điều khiển bằng cách thay đổi thể tích không khí ở bên trong ống và thay đổi tốc độ kéo. Điều này giúp cho màng thổi ổn định hơn về tính chất so với màng đúc hay đùn truyền thống chỉ có kéo căng dọc theo chiều đùn.
2. Phân loại màng
a. Bao bì màng đơn
Để giúp quý vị đọc hiểu thêm về sự khác biệt giữa bao bì nhựa mềm cao cấp trong ngành bao bì nhựa này, chúng tôi xin có ý kiến phụ giải phần nào để phân biệt rõ hơn về chủng loại bao bì hầu nhận định về giá trị và sự phức tạp trong công nghệ, cùng công dụng bao bì. Đối với loại màng đơn này nguyên liệu sử dụng chủ yếu là PE (PELD, PELLD) và PP.
i) Trong công nghệ sản xuât bao bì màng đơn, nguyên liệu đưa vào máy từ đùn thổi thành những sản phẩm ống, từ ống màng tùy theo kích cỡ để làm túi như túi bao bì phục vụ khách hàng tại các siêu thị, hay các sản phẩm hoa trái… Nếu in số lượng ít thì người ta thông thường in theo phương pháp kéo lụa, in lụa – và nếu với số lượng nhiều từ 10.000 túi thì người ta sử dụng trục in ống đồng với công nghệ trục ăn mòn hóa chất (đặt bộ trục in trên máy đùn/thổi), nhưng chỉ đơn giản một, hai, ba màu tách riêng nét rõ ràng. Nếu cao cấp hơn thì phải xoay tram như bao bì màng ghép, phải khắc trục ống đồng trên máy khắc trục điện tử - In từ 5 màu trên hệ thống máy in ống đồng cao cấp.
ii) Bao bì đựng gạo, phân bón, xi măng, thức ăn gia súc, người ta sản xuất theo phương pháp : từ hat nhựa PP kéo thành màng, cắt thành sợi, quấn vào lõi từ mỗi cuộn (nhiều cuộn) đưa vào máy dệt thành ống, sau đưa vào máy khâu đáy bao để trước/sau khi cho sản phẩm vào bao họ sẽ khâu nối đầu còn lại. Có những nhu cầu vì sản phẩm người ta phải ghép một lớp PELD bên mặt trong để sản phẩm được bảo quản theo yêu cầu.
iii) Cả hai loại bao bì nói trên có phương thức công nghệ đơn giản, khi mua máy được hướng dẫn và bàn giao công nghệ trước/sau 10 ngày. Do vậy các nhà sản xuất bao bì đơn này rất nhiều đơn vị sản xuất trên các địa phương trong cả nước, vả lại đầu tư không đòi hỏi giá trị cao như bao bì màng ghép – do sự giá cạnh tranh quyết liệt của bao bì màng đơn nên lợi nhuận đương nhiên rất thấp.
b. Bao bì màng ghép phức hợp
Nói tới bao bì màng ghép phức hợp hay còn gọi là bao bì nhựa mềm màng film cao cấp ghép nhiều lớp, nhằm bảo quản theo tầng lớp ghép với nhau tác dụng cho hàng hóa đạt được thời gian cần thiết cho sản phẩm, sau khi ghép nhiều lớp với chất liệu đặc chủng để định mức thời gian, sản phẩm có thể để được đến 2 năm. Về cơ bản công nghệ chế tạo màng ghép phức hợp không khác nhiều so với màng đơn. Ở đây người ta sử dụng khuôn đặc biệt và bố trí thêm nhiều hệ thống đùn.

Khuôn màng phức hợp
Những sản phẩm thuộc công nghệ kể trên thường sử dụng với các chất liệu BOPP, OPP, PELD, PELLD, PET, AL-FOIL, PEARLIZE, PP, PA, CPP, MCPP, MPET… Người ta có thể sau khi in xong, ghép BOPP // PELD, PET // AL-FOIL // PELLD, BOPP // PELD, PET // AL-FOIL // PELD // PELLD… Một số công thức kể trên, người ta sử dụng cho các sản phẩm bao bì hàng hóa cao cấp như túi cà phê, bánh, kẹo, mì ăn liền, thực phẩm cao cấp, mỹ phẩm, dược phẩm, xà bông, diệt sâu bọ, hải sản xuất khẩu và sử dụng trong nước, cùng bao bì cho các hàng hóa cao cấp khác…
Công nghệ bao bì này xuất hiện trên thị trường thế giới từ những năm 1969-1970, thiết bị nhập vào Việt Nam năm 1974 nhưng chưa công dụng được để phát triển, đến năm 1990 khu vực Công nghệ TP. Hồ Chí Minh mới khơi dậy từ Nhà máy Công ty Quốc doanh, sự kiện bước đầu thật khó khăn, đến năm 1993-1994 đã từ từ ổn định công nghệ, khách hàng. Công nghệ bao bì nêu trên rất là phức tạp : Đôi khi in xong không thấy lỗi kỹ thuật, nhưng khi ghép xong có khi mới phát hiện, thậm chí chia cuộn giao hàng sau đó ít ngày sự kết cấu không đạt, mức độ khách quan nếu chúng bị bong tróc lớp ghép ảnh hưởng không nhỏ cho sản phẩm đến thương trường, và còn rất nhiều trường hợp ngoại lệ khác.
(Theo vatlieu.org, Nguyễn Tấn Nhật)